Breaking News

Tổng thống Hoa Kỳ và Việt Nam

Giao Chỉ, San Jose.

Dân Việt News – Sơ lược tổng quát.

Bắt đầu từ 1954 với tổng thống thứ 34 là ơng Eisenhower, Việt Nam mới cĩ cơ hội đĩng vai trị trong lịch sử Hiệp Chủng Quốc. Vào cuối thập niên 50, trong chuyến đi Mỹ, chúng tơi thấy hình ảnh ơng Eisenhower đĩn chào tổng thống Ngơ Đình Diệm và ca ngợi vị nguyên thủ Việt Nam là vĩ nhân của Đơng Nam Á. Chẳng bao lâu sau đĩ, vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ là ơng Kennedy đã gián tiếp trách nhiệm về cuộc đảo chánh và việc hạ sát anh em ơng Diệm năm 1963 tại Sài Gịn. Ơng Kennedy tuy giải tỏa được một chế độ cản đường nhưng cũng rất ân hận về cái chết của ơng Diệm. Cả hai ơng Ngơ Đình Diệm và Kennedy đều là Thiên Chúa Giáo. Nhưng niềm ân hận cũng khơng lâu, chỉ sau một thời gian ngắn đến lượt ơng Kennedy bị ám sát chết tại Dallas, Texas. Cái chết của cả hai vị tổng thống vẫn cịn nhiều bí ẩn cho đến ngày nay. Ơng Johnson lên thay trong vai trị tổng thống thứ 36 với gánh nặng chiến tranh Việt Nam. Ơng là người quyết tâm nhưng vẫn khơng thành cơng và để cho ơng Nixon lên thay với chiêu bài Việt Nam hĩa chiến tranh, rút quân về bằng mọi giá. Năm 1974, Nixon, vị tổng thống thứ 37 vì Watergate phải từ chức. Ơng Gerald Ford thứ 38 lên thay, thể theo lịng dân và quốc hội, quay lưng cuộc chiến tranh Việt Nam. Từ nay đối với Hoa Kỳ, Việt Nam chỉ cịn là vấn đề nhân đạo. Với 5 vị tổng thống can dự vào chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford, người Mỹ gọi đây là The War of the Presidents. Ý nĩi là cuộc chiến riêng tư của các vị tổng thống, khơng can dự gì vào nước Mỹ và dân Mỹ. Làn sĩng chống chiến tranh của dân Mỹ dâng cao với các cuộc xuống đường hàng triệu người. Bây giờ sống tại đây chúng ta mới cĩ thể hiểu được là lịng dân của Mỹ quốc thực sự ảnh hưởng đến chính quyền ra sao. Khơng cần đúng hay sai, khơng cần giữ lời cam kết. Đối với dân chúng Hoa Kỳ, lịng kiên nhẫn và sự chịu đựng, hy sinh cĩ giới hạn. Đánh khơng xong thì rút, sống chết mặc bay. Từ các quan niệm đĩ, định mệnh đưa chúng ta đến Hoa Kỳ. Sau đây là phần chi tiết.

1) Eisenhower, Chính sách ngăn chặn (1953-1961)

Sau cuộc vây hãm kéo dài 56 ngày, đầu năm 1954, Pháp đã phải chịu thất bại tại Điện Biên Phủ. Kết quả là Hiệp định Geneve 1954 chia Việt Nam làm hai phần ở vĩ tuyến 17. Hoa Kỳ bác bỏ hiệp định Geneve và giúp đỡ một chính quyền quốc gia ở Nam Việt Nam vào tháng 6 năm 1954. Ngơ Đình Diệm, một người Cơng giáo chống Cộng từng sống ở Mỹ, đã trở lại Việt Nam với vai trị thủ tướng và năm sau lên làm tổng thống của một nước Nam Việt Nam độc lập.

Khi những binh lính Pháp cuối cùng ra đi vào tháng 3 năm 1956, Mỹ đã thay thế, và Nam Việt Nam trở thành tiền tuyến trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản tại Đơng Nam Á. Chính quyền Eisenhower đã phải gửi 200 triệu đơla viện trợ một năm và 675 cố vấn quân sự đầu tiên. Tổng thống Eisenhower vốn là anh hùng nước Mỹ sau đệ nhị thế chiến trải qua 2 nhiệm kỳ từ 1953 đến 1961. Ơng đĩn tiếp long trọng tổng thống Việt Nam thăm Hoa Kỳ năm 1957 và ca tụng ơng Diệm là vĩ nhân châu Á.

2) Kennedy, vấn đề nan giải.(1961-1963)

Khi Kennedy trở thành tổng thống, ơng kế thừa di sản Việt Nam từ Eisenhower. Nhưng thứ thực sự lơi cuốn ơng là cơ hội để thử nghiệm học thuyết chống chiến tranh du kích cùng với chiến lược quân sự đáp trả linh hoạt.

Đến năm 1961, cộng sản Bắc Việt đã thành lập tại miền Nam một phong trào nổi dậy được biết đến với cái tên Mặt trận giải phĩng dân tộc(NLF). Trong một buổi phỏng vấn của đài CBS, Kennedy đã nhận định rằng tùy thuộc vào người Nam Việt Nam mà “cuộc chiến của họ” sẽ thắng hay bại. Trong khi đĩ tình hình miền Nam ngày càng xấu. Nơng thơn mất an ninh, cường độ chiến tranh gia tăng. Tại thành thị dân chúng và Phật giáo chống chính phủ.Vào thời điểm đĩ, đã cĩ khoảng 16.000 “cố vấn” Mỹ tại Việt Nam. Mất kiên nhẫn với ơng Diệm, Kennedy cho Sài Gịn biết rằng Mỹ sẽ ủng hộ một cuộc đảo chính quân sự. Vào 1/11/1963, chính quyền Diệm bị lật đổ và tổng thống Việt Nam bị giết chết, một kết cục mà Kennedy đã khơng đốn trước được. Nhưng ơng phải chịu trách nhiệm về cái chết của nhà lãnh đạo mà tổng thống Eisenhower gọi là vĩ nhân châu Á. Ba tuần sau, chính ơng Kennedy cũng bị ám sát chết.

3) Lyndon Johnson, Quyết tâm sa lầy, (1963-1969)

Giống như Kennedy kế thừa Việt Nam từ Eisenhower, Lyndon Johnson cũng thừa hưởng Việt Nam từ Kennedy. Tuy nhiên di sản mà Johnson nhận được phiền tối hơn, bởi đến lúc này một cuộc can thiệp qui mơ lớn của Mỹ mới cĩ thể ngăn chặn sự sụp đổ của Nam Việt Nam. Johnson thề trong buổi nhậm chức,“Tơi sẽ khơng để mất Việt Nam”, Sau đĩ chiến tranh Việt Nam thực sự nằm trong quyết tâm của ơng. Trong mùa hè 1964, Johnson nhận được những báo cáo về những tàu ngư lơi của Bắc Việt Nam đã tấn cơng tàu khu trục Maddox. Trong cuộc tấn cơng đầu tiên, vào ngày 2 tháng 8, tổn thất chỉ giới hạn ở một lỗ đạn; cuộc tấn cơng thứ hai, vào ngày 4 tháng 8, sau đĩ được chứng minh là nhầm lẫn của radar. Điều đĩ khơng quan trọng. Trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, dù cĩ thực hay tưởng tượng, lời kêu gọi vũ trang của tổng thống khĩ cĩ thể cưỡng lại. Trong cả Quốc hội, chỉ cĩ hai thượng nghị sĩ bỏ phiếu chống. Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ đã ủy thác cho Johnson quyền được mở các chiến dịch ở Việt Nam. Với cuộc bầu cử năm 1964 đã ở lại sau lưng, Johnson bắt đầu một quá trình để người Mỹ đảm nhiệm cuộc chiến ở Việt Nam. Quá trình leo thang, bắt đầu từ đầu năm 1965, bao gồm 2 hình thái: Gia tăng bộ binh Mỹ và đẩy mạnh đánh bom miền Bắc. Ngày 8/3/1965, những người lính thủy quân lục chiến đầu tiên đã đặt chân lên bờ biển Đà Nẵng, bề ngồi là để bảo vệ căn cứ khơng quân ở đây. Nhưng họ sớm phải chạm trán với kẻ thù. Năm 1966, hơn 380.000 lính Mỹ đã đĩng quân ở Việt Nam; năm 1967, 485.000 quân; và 1968 là 536.000. Trong lúc ấy, Mỹ tiến hành chiến dịch cĩ tên Rolling Thunder, leo thang đánh bom Bắc Việt Nam. Mục tiêu đặc biệt là Đường mịn Hồ Chí Minh, một mạng lưới tinh vi bao gồm đường mịn, cầu, và nơi trú ẩn trải dài từ Bắc Việt Nam qua Campuchia và Lào đến Nam Việt Nam. Đến năm 1968, một triệu tấn bom đã trút xuống Bắc Việt Nam.

Johnson cĩ lí do để tự tin về người dân Mỹ. Sự đồng thuận rộng rãi vững vàng được hình thành từ những năm trước đĩ là điều kiện thuận lợi để Washington tiến hành Chiến tranh. Cả Đảng Dân Chủ và Cộng Hịa đều chấp thuận cho Johnson leo thang chiến tranh ở Việt Nam, và điều tương tự đối với những cuộc khảo sát ý kiến cơng chúng trong năm 1965 và 1966. Nhưng sau đĩ quan điểm bắt đầu thay đổi.

Mỗi buổi tối người Mỹ lại thấy trên truyền hình cảnh tàn sát của cuộc chiến và những người Mỹ thương vong. Những phĩng viên bắt đầu viết về một “sự khủng hoảng lịng tin “
Nhưng kinh tế đặt ra cho Johnson nhiều vấn đề hơn. Chiến tranh Việt Nam tiêu tốn 27 tỉ đơ-la vào năm 1967, đẩy thâm hụt ngân sách từ 9,8 tỉ đơ-la lên 23 tỉ đơ-la. Chi tiêu quân sự đã thúc tỉ lệ lạm phát lên cao. Chỉ trong mùa hè năm 1967, Johnson đã yêu cầu đánh thêm 10% thuế thu nhập. Cho đến lúc đĩ, vịng xốy lạm phát sẽ gây họa cho nền kinh tế Mỹ trong suốt thập niên 1970 đang đến rất gần.

Trong hồn cảnh đĩ phong trào phản chiến bắt đầu hình thành. Hạt nhân của nĩ, cùng với những nhĩm ủng hộ hịa bình lâu năm, là một thế hệ mới những nhà hoạt động hịa bình như SANE, nhĩm đã biểu tình chống thử vũ khí hạt nhân vào những năm 1950. Phong trào phản chiến nhanh chĩng cĩ khả năng tạo ra những cuộc biểu tình lớn ở Washington, đem đến 20-30 ngàn người một lúc. Mặc dù bao gồm nhiều thành phần đa dạng, tất cả những người theo phong trào đều chia sẻ một mối hồi nghi về chính sách của Mỹ ở Việt Nam. Tổng thống Johnson năm 1965 đã hy vọng vào một chiến thắng chớp nhống ở Việt Nam, trước khi cái giá chính trị của việc leo thang đến hạn. Nhưng đã khơng cĩ chiến thắng nhanh chĩng nào. Các lực lượng của Bắc Việt Nam và Việt Cộng đồng loạt tấn cơng, chính quyền Nam Việt Nam mất đất, và thương vong của Mỹ tăng lên. Vào đầu năm 1968, tỉ lệ tử vong đã chạm đến mức vài trăm người một tuần. Johnson và các tướng lĩnh của ơng vẫn khăng khăng cho rằng cĩ “ánh sáng ở cuối đường hầm”. Thực tế trên chiến trường đã cho thấy điều ngược lại.

Vào 30/1/1968, Việt Cộng mở một cuộc tấn cơng lớn ở Nam Việt Nam. Thời điểm trùng với Tết, kỳ nghỉ đĩn năm mới của người Việt, cuộc tấn cơng đánh vào 36 thủ phủ của các tỉnh và 5 trong số 6 thành phố lớn, bao gồm Sài Gịn, nơi Việt Cộng đã gần như lọt vào Sứ quán Mỹ vốn được cho là khơng thể đánh chiếm được. Về mặt quân sự, cuộc tổng tấn cơng Tết Mậu Thân là một thất bại, với con số thương vong nặng nề của Việt Cộng. Nhưng về mặt tinh thần, hậu quả là rất lớn. Truyền hình đã đem đến tận nhà người Mỹ những hình ảnh gây sốc.

Đến cuối một bài phát biểu truyền hình vào ngày 31/3, Johnson đã làm cả nước sửng sốt khi tuyên bố ơng sẽ khơng tái ứng cử. Ơng cũng kêu gọi tạm ngưng một phần chiến dịch đánh bom và hứa sẽ dùng những tháng tại nhiệm cịn lại để tìm kiếm hịa bình. Vào 10/5/1968, Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam bắt đầu vịng đàm phán hịa bình sơ bộ tại Paris.

4) Cuộc chiến của Nixon (1969-1974) Chiến lược Hịa hỗn.

Khái niệm thế giới hai phe, vốn đã trở nên lỗi thời từ thời của Lyndon Johnson, lại càng bị chối bỏ khi Richard Nixon sử dụng sách lược hịa hỗn. Nhưng khi đối diện với cuộc chiến ởViệt Nam, Nixon thừa hưởng di sản mà Johnson để lại. Từ bỏ Việt Nam, theo Nixon, sẽ hủy hoại “uy tín” của nước Mỹ và khiến cho cường quốc này cĩ vẻ giống như một “người khổng lồ chân đất sét”. Và cũng giống như Johnson, Nixon cĩ những toan tính riêng cho bản thân mình. Ơng khơng được phép trở thành vị tổng thống đầu tiên để thua một cuộc chiến. Nixon muốn hịa bình, nhưng phải là “hịa bình trong danh dự”.

Để làm dịu chỉ trích trong nước, ơng bắt đầu giao lại mặt trận chiến đấu cho những người lính Nam Việt Nam. Với chính sách mới cĩ tên “Việt Nam hĩa chiến tranh” này, số lượng lính Mỹ giảm xuống từ 543.000 năm 1968 xuống cịn 334.000 năm 1971 và chỉ cịn 24.000 vào đầu năm 1973. Tỉ lệ thương vong cũng như uy tín chính trị của họ cũng giảm theo tương ứng. Nhưng cuộc giết chĩc ở Việt Nam vẫn tiếp tục. Như lời mà đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Ellsworth Bunker, đã nĩi một cách mỉa mai, đĩ chỉ là vấn đề thay đổi “màu da của những xác chết”.

Vào tháng tư năm 1972, khi cuộc chiến trở nên khốc liệt, Nixon đã ra lệnh cho B-52 khơng kích vào Bắc Việt Nam. Một tháng sau đĩ, ơng đồng ý cho gài mìn vào những bến cảng của Bắc Việt Nam, điều mà Johnson đã khơng bao giờ dám làm. Nixon cĩ thể rảnh tay như thế là bởi, theo tinh thần hịa hỗn, Trung Quốc khơng cịn đe dọa can thiệp nữa. Phía Nga, Brezhnev cũng làm ngơ khi chào đĩn Nixon vào tháng năm năm1972, thời điểm cao trào của những cuộc khơng kích B-52(mà đã gây ra thương vong cho Sơ Viết). Bắc Việt Nam cĩ thể cảm thấy bị cơ lập, nhưng viện trợ từ Trung Quốc và Liên Xơ vẫn tiếp tục đổ vào, và du kích Việt Cộng vẫn tiếp tục chiến đấu.

Ở trong nước, cuộc chiến của Nixon đã trở thành gánh nặng lớn. Chẳng những khơng suy giảm mà phong trào phản chiến ngày càng rầm rộ. Tháng 11 năm 1969, nửa triệu người đã biểu tình ở Washington. 30/4/1970, trong một phần của chiến dịch ném bom bí mật những tuyến đường vận chuyển khí giới của Việt Minh ở nước Campuchia trung lập, binh lính Mĩ đã tiến hành xâm nhập để tiêu diệt những cơ sở địch ở đĩ. Khi tin tức về việc đổ bộ vào Campuchia được loan ra, những trường đại học Mĩ như nổ tung vì căm giận, và lần đầu tiên, cĩ sinh viên bị chết. 4/5/1970, tại trường đại học Kent State ở Ohio, lực lượng cảnh vệ quốc gia đã nổ súng vào đồn người biểu tình, giết chết bốn sinh viên và làm bị thương mười một người. Tại trường đại học Jackson State ở Mississippi, lực lượng cảnh vệ đã tấn cơng vào một ký túc xá, giết chết hai sinh viên da đen. Hơn 450 trường đại học đã đĩng cửa để phản đối. Trên khắp đất nước, khĩa học mùa xuân đã bị hủy bỏ.

Bất chấp tất cả, Nixon vẫn bền chí, phê phán kịch liệt những sinh viên biểu tình và tổ chức một cuộc biểu tình phản đối lại họ. Mũ bảo hộ lao động đã trở thành một biểu tượng yêu nước sau khi những cơng nhân xây dựng New York đánh bại những người biểu tình trong một cuộc biểu tình hịa bình vào tháng 5/1970. Dần dần, chiến lược “Việt Nam hĩa chiến tranh” khiến phong trào phản chiến đi xuống. Khi nhân lực trong quân đội cần được cắt giảm, chế độ quân dịch cũng bị cắt bớt, làm xẹp đi lịng nhiệt tình của nhiều sinh viên phản chiến. Cuối cùng, Nixon đã đẩy lui được những chỉ trích. Nhưng cái mà ơng khơng đẩy lui được là cơng sản Bắc Việt Nam.

Khi mà cuộc bầu cử năm 1972 đang cận kề, Nixon đã gửi Henry Kissinger đến những cuộc đối thoại hịa bình ở Paris. Ở đây Kissinger đã cĩ một nhượng bộ quan trọng khi chấp nhận sự xuất hiện của binh lính Bắc Việt ở lại miền Nam. Với lời tuyên bố của Kissinger: “Hịa bình trong tầm tay”, Nixon đã cĩ thêm số phiếu mà ơng muốn, nhưng thỏa thuận đã bị phá bỏ bởi ơng Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống Nam Việt Nam. Bởi vậy Nixon, trong cuộc đổ máu cuối cùng, đã ra lệnh hai tuần “ném bom giáng sinh”, sự kiện tàn khốc nhất trong cả cuộc chiến. 27/1/1973, hai bên thỏa thuận hịa bình Paris, tái khẳng định thỏa thuận ngừng bắn tháng mười năm trước. Nixon hi vọng rằng với sự hỗ trợ ồ ạt của Mỹ, chính quyền Thiệu cĩ thể tồn tại. Nhưng Quốc hội đã từ chối cho phép ném bom Campuchia sau 15/8/1973, và từ từ cắt viện trợ cho Nam Việt Nam. Tiếp theo ơng Nixon bị truất phế vì Watergate 1974.Vào tháng ba năm 1975, các lực lượng Bắc Việt Nam đã phát động cuộc tấn cơng và Sài Gịn thất thủ. Liệu kết thúc như vậy cĩ đáng buồn khơng?. Đúng, dĩ nhiên, đối với những người bạn Việt Nam của Hoa Kỳ, những người đã mất đi việc làm và tài sản, phải mất nhiều năm trong những trại cải tạo, hoặc phải rời khỏi quê hương. Đúng, đối với nước láng giềng Campuchia, nơi bọn Khơ-me đỏ điên cuồng lên nắm quyền, tàn sát 1,7 triệu người và đưa đất nước gần như quay trở về thời kì đồ đá. Đối với nước Mỹ, đúng, bởi sự lãng phí sinh mạng (58.000 người chết, 300.000 người bị thương), 150 tỉ đơ-la, những vết thương bên trong lâu lành, và sự tự tin bị đánh mất đối với những nhà lãnh đạo nước Hoa Kỳ. Ghi chú. Các tài liệu về tổng thống Mỹ trong chiến tranh Việt Nam được lấy từ phần Việt Ngữ của tự điển điện tốn Wikipedia

Nhận định riêng. Điều thực sự quan trọng là, truớc khi bỏ rơi Nam Việt Nam, các vị tổng thống Hoa Kỳ đă thực sự muốn hồn thành sứ mạng bảo vệ Việt Nam.. Johnson quyết tâm chiến thắng. Nixon muốn cĩ hịa bình trong danh dự. Nhưng họ khơng vượt qua được hồn cảnh. Chính vì những lý do đĩ, nguời Mỹ đă mở vịng tay đĩn tỵ nạn Việt Nam trong hơn 40 năm qua. Đồng thời tìm cách trở lại Việt Nam để trực tiếp gặp người dân của nước cựu thù. Nước Mỹ tìm cách chinh phục lịng người, vận động đồng minh bằng vịng tay mở rộng thay vì B52 hay bom đạn chiến tranh.. Sau đây là giai đoạn hậu chiến với các chương trình di dân và hình thành cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ. Tổng thống CH 38 Ford. (1974-1977) Trong phiên họp cuối cùng quốc hội Hoa Kỳ bàn về viện trợ cho miền Nam. Tổng thống Ford thơng báo tài khĩa 1973 đã dành cho VNCH 2 tỷ 8 trăm triệu. Tài khĩa 1974 chỉ xin 700 triệu nhưng khơng được chấp thuận. Kịp đến đầu năm 1975 xin 300 triệu cũng bị từ chối. Quốc hội quyết định khơng cho 1 xu nhưng tuyên bố sẽ dành cho ngân khoản tối đa để đĩn người ty nạn. Ơng Ford lên thay Nixon làm tổng thống thứ 38 chỉ cịn cơng việc cuối dành cho VNCH là đến San Fransisco đĩn đứa bé mồ cơi Việt Nam chụp hình cho báo chí phổ biến. Với 3 năm sau cùng, vị tổng thống Cộng Hịa đã hồn tất việc định cư cho 150 ngàn người di tản Việt đầu tiên đến Mỹ.

Tổng thống DC 39, Jimmy Carter. (1977-1981)

Trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi 4 năm, tổng thống của thuyền nhân Việt Nam đã trở thành vị ân nhân số một. Ơng đã cử phái đồn đến Hà Nội ngỏ ý muốn giúp kẻ thù cũ xây dựng đất nước. Việt Cộng đã ngạo mạn bỏ qua một cơ hội bằng vàng. Sau đĩ đã kéo lùi đất nước lại hơn 30 năm từ khi chiến thắng 75 đến 85 mới tỉnh ngộ. Mặt khác tại Hoa Kỳ, tổng thống Carter đã mở đầu chính sách ODP từ 1979 và cho lệnh vớt thuyền nhân trên biển Đơng. Năm 1980 kiểm kê dân số lần đầu tiên dưới thời kỳ Carter người Việt đạt được trên 260 ngàn. Cũng trong triều đại Carter bộ luật về Ty Nạn được ban hành 1980 với danh hiệu Refugee Act.

Tổng thống CH 40, Reagan (1981-1989)

Khơng thể quên được hình ảnh tổng thống Reagan ký tài liệu mở đường cho chương trình nhận tù chính trị và gia đình định cư tại Mỹ và tiếp theo là chương trình con lai. Kiểm kê dân số 1990 với thời kỳ Reagan kết quả gia tăng và người Việt đạt được 600 ngàn. Trong số này cĩ nhiều thuyền nhân từ các trại ty nạn Đơng Nam Á.

Tổng Thống CH 41, Bush Cha (1989-1993)

Chương trình ODP, con lai và thuyền nhân tỵ nạn tiếp tục được nhận vào Hoa Kỳ. Cĩ thể nĩi trong 4 năm ngắn ngủi của ơng Bush Cha là giai đoạn thuyền nhân đến Mỹ nhiều nhất.

Tổng Thống DC 42 Clinton. (1993-2001)

Thời kỳ 8 năm của ơng Clinton con số ODP rất cao và số thuyền nhân xuống thấp vì các trại ty nạn đĩng cửa năm 1995. Tuy nhiên tổng số dân ty nạn Việt Nam ghi lại trong kỳ kiểm kê 2000 đã lên gần gấp đơi là 1 triệu và 100 ngàn. Đặc biệt tổng thống Clinton đến thăm Việt Nam lần đầu tiên năm 2000 đã đem luồng giĩ tự do, dân chủ đến trực tiếp với dân Việt cả hai miền Nam Bắc. Một hiện tượng lịch sử cĩ rất nhiều ý nghĩa.

Tổng Thống CH 43. Ơng Bush Con (2001-2009)

Thuyền nhân khơng cịn trực tiếp đến Mỹ nhưng các diện đồn tụ, con lai và HO vẫn tiếp tục. Tổng thống Bush con cũng đến Việt Nam và đem lại rất nhiều ý nghĩa đặc biệt . Đồng thời kỳ kiểm kê dân số năm 2010 người Việt tại Mỹ gia tăng lên con số 1 triệu và 500 ngàn.

Tổng thống DC 44 ơng Obama. (2009-2017)

Trải qua 8 năm cầm quyền, hồ sơ đồn tụ ODP và nhiều hình thức khác vẫn tiếp diễn. Thêm vào đĩ người Việt qua Mỹ theo diện kết hơn gia tăng đáng kể . Tính đến cuối năm 2016 dân số gốc Việt tại Hoa Kỳ vào khoảng 1 triệu 800 ngàn người. Đạt được rất nhiều thành quả đáng kể. Thế hệ thứ hai và thứ ba Việt Nam trở thành dân cử, các tướng lãnh, các chuyên gia và các cơng dân Hoa Kỳ gốc Việt gương mẫu. Đặc biệt chuyến thăm viếng Việt Nam của tổng thống Obama được coi là một thành quả ngoại giao vơ cùng khích lệ khơng phải đối với chính quyền mà là trực tiếp đối với dân chúng Việt nam, đặc biệt là giới trẻ.

Tổng Thống CH 45 Trump (2017-…..

Trải qua 5 đời tổng thống Hoa Kỳ thời hậu chiến dù là Cộng Hịa hay Dân Chủ di dân Việt Nam luơn luơn được chào đĩn và trở thành con số vào Mỹ cao nhất cuối thế kỷ 20.
Năm nay Hoa Kỳ cĩ vị tổng thống mới. Một hiện tượng đặc biệt. Một đường lối khác biệt. Chưa thể cĩ dữ kiện cụ thể để ghi nhận. Nhưng chắc chắn là sẽ khĩ khăn hơn về con đường di dân và đồn tụ

Chúng ta cĩ thể quản ngại cho tương lai. Nhưng cũng ghi nhận sự vui mừng đã đạt được con số người Việt đáng kể tại Hoa Kỳ để làm thành một cộng đồng vững mạnh. Nếu Hoa Kỳ khơng tham dự vào Việt Nam từ 1954, dân Việt miền Nam khơng cĩ được 2 thập niên tự do dân chủ. Nếu tổng thống, chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ khơng chủ trương bao dung với di dân, chúng ta khơng cĩ mặt tại Mỹ. Hơn nửa thế kỷ vừa qua, 9 vị tổng thống Mỹ, từ Eisenhower đến Obama đều là ân nhân của di dân gốc Việt.

Giao Chỉ

Tổng thống Hoa Kỳ và Việt Nam
Click to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

To Top